Triệu chứng và phân loại xơ gan

    Xơ gan được coi là một bệnh trong “tứ chứng nan y”, ngày nay với những tiến bộ của y học hiện đại, đã có những hướng mới mở ra cho các bệnh nhân xơ gan, đặc biệt là việc kiểm soát và phòng ngừa các biến chứng giúp ổn định lại chức năng gan hay làm chậm sự tiến triển của bệnh, việc chẩn đoán sớm và tìm ra nguyên nhân để điều trị cũng cần được nhấn mạnh.

    Xơ gan có biểu hiện gì?

    Xơ gan là thuật ngữ dùng để chỉ tình trạng cấu trúc bình thường của gan bị biến đổi và thay thế bằng mô xơ sẹo không còn chức năng, thường gây ra bởi quá trình viêm kéo dài tại gan do nhiều bệnh lý khác nhau như xơ gan do ứ mật; hóa chất, thuốc; thiểu dưỡng; ký sinh trùng; rối loạn chuyển hóa... nhưng thường gặp nhất là tình trạng lạm dụng rượu và nhiễm virut viêm gan. Các thương tổn trong xơ gan thường không thể hồi phục được nhưng hoàn toàn có thể làm chậm hoặc ngăn cản các thương tổn này bằng việc điều trị hợp lý.

    Thời kỳ đầu, xơ gan thường không có triệu chứng, về sau tùy thuộc từng mức độ có các biểu hiện của hội chứng suy tế bào gan, hội chứng tăng áp lực tĩnh mạch cửa, bệnh nhân mệt mỏi, kém ăn, vàng da, da sạm, dễ chảy máu cam, chảy máu chân răng, phù, cổ trướng, suy giảm chức năng tình dục..., nặng hơn có những triệu chứng của biến chứng như nôn ra máu và đi ngoài phân đen do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản, hôn mê gan, suy thận, các biểu hiện nhiễm khuẩn hoặc do xơ gan ung thư hóa...

    Xử trí thế nào với các biến chứng của xơ gan?

    Có thể nói, hiện chưa có cách nào có thể điều trị đặc hiệu hay làm đảo ngược lại quá trình bệnh lý. Điều trị xơ gan đòi hỏi những hiểu biết về bệnh sử, sinh lý bệnh và diễn tiến của bệnh; căn cứ vào nguyên nhân và mức độ thương tổn của gan. Trong đợt tiến triển, bệnh nhân cần được nghỉ ngơi, ăn đủ chất, hợp khẩu vị; đủ calo, nhiều sinh tố, đạm; hạn chế mỡ, ăn nhạt khi có phù. Về thuốc, dùng các thuốc làm tăng cường chuyển hóa tế bào gan như vitamin C, B12; glucocorticoid dùng trong đợt tiến triển của xơ gan do viêm gan virut, xơ gan ứ mật; các thuốc tăng cường chuyển hóa đạm; khi protein trong máu giảm nhiều dùng các dung dịch có chứa albumin hoặc các loại đạm tổng hợp; khi có phù, cổ trướng to cần phối hợp dùng các thuốc lợi tiểu, hoặc chọc dịch cổ trướng khi có chỉ định...

    Nhận biết và kiểm soát các biến chứng là yếu tố quan trọng

    Các biến chứng thường gặp của xơ gan như vỡ giãn tĩnh mạch thực quản, cổ trướng, nhiễm khuẩn màng bụng tiên phát, hội chứng gan thận, bệnh não gan...

    Với giãn tĩnh mạch thực quản có 3 chiến lược điều trị cần được xác định đó là phòng ngừa vỡ giãn tĩnh mạch thực quản, điều trị chảy máu tiêu hóa do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản và phòng chảy máu trở lại. Phòng ngừa vỡ giãn tĩnh mạch thực quản được áp dụng cho tất cả các bệnh nhân có biểu hiện giãn tĩnh mạch từ mức độ vừa trở lên, tập trung vào việc làm giảm áp lực tĩnh mạch cửa và dùng các biện pháp tác động trực tiếp lên tĩnh mạch như tiêm xơ, thắt tĩnh mạch thực quản bằng vòng cao su, nhiều nghiên cứu cho thấy rằng thắt tĩnh mạch thực quản bằng vòng cao su là biện pháp phòng ngừa ban đầu làm giảm tỷ lệ chảy máu và tử vong liên quan tới xuất huyết. Các thuốc nhóm chẹn beta giao cảm không chọn lọc như propranolol, nadolol, các nitrates và biện pháp cơ học như tạo các đường nối thông từ tĩnh mạch cửa sang tĩnh mạch chủ bằng TIPS (Transjugular Intrahepatic Portosystemic Shunt) hay phẫu thuật giúp đều giúp làm giảm áp lực tĩnh mạch cửa. Các biện pháp cơ học làm giảm áp cửa rõ rệt tuy vậy lại có thể gây ra bệnh não gan nhanh hơn nên không thể là các biện pháp phòng bệnh ban đầu. Trong trường hợp chảy máu do giãn vỡ tĩnh mạch thực quản, trước hết cần hồi sức ổn định tình trạng huyết động, dùng kháng sinh dự phòng, truyền nhỏ giọt tĩnh mạch các thuốc có tác dụng làm giảm áp lực tĩnh mạch cửa somatostatin, vasopressin, cân nhắc các biện pháp tiêm xơ hoặc thắt tĩnh mạch thực quản bằng vòng cao su.

    Các biến chứng khác như cổ trướng, nhiễm khuẩn màng bụng, ung thư hóa... cũng cần được đánh giá và điều trị hợp lý, kịp thời. Trong giai đoạn nặng thường có biểu hiện hôn mê gan, điều trị nhấn mạnh tới việc loại trừ các yếu tố thúc đẩy như chảy máu, nhiễm khuẩn, rối loạn điện giải... Chế độ ăn giảm đạm, dùng các thuốc giúp làm giảm lượng amoniac như neomycin, metronidazol, lactulose...

    (Theo Suckhoedoisong.vn)

    Cổ trướng: Sau một thời gian dài lâm bệnh như viêm gan do virus, sốt rét hoặc uống rượu lâu ngày người bệnh thấy rối loạn tiêu hóa: Đầy hơi, chán ăn, ăn không tiêu, đi lỏng rồi xuất hiện cổ trướng (có nước trong ổ bụng). Khi cổ trướng đã rõ, người bệnh thấy khó chịu, mệt mỏi, nặng bụng nhất là khi ngồi, đứng dậy thấy bụng to hơn mọi ngày.


    Người thầy thuốc nhìn, sờ, gõ, có thể phát hiện cổ trướng. Nếu tiến hành chọc dò sẽ thấy dịch chảy ra. Nếu xét nghiệm thấy lượng albumin từ 10-20g/lít.

    Xuất hiện tuần hoàn bàng hệ: Qua thăm khám sẽ thấy hệ thống tĩnh mạch nổi lên dưới da bụng, ngực, mạn sườn, đặc biệt là khi bệnh nhân ngồi.

    Lách to: Khi khám lách bằng sờ, nắn sẽ có cảm giác lách to ra, đặc biệt siêu âm sẽ cho thấy lách to rõ rệt.

    Giãn tĩnh mạch trực tràng: Triệu chứng này giống như trĩ nội. Khi đi ngoài hoặc rặn mạnh sẽ thấy máu tươi chảy ra theo phân hoặc riêng biệt.

    Hội chứng suy tế bào gan

    Hội chứng này bao gồm cả các triệu chứng lâm sàng và cả hệ thống cận lâm sàng để chẩn đoán:

    Lâm sàng: Cơ thể suy nhược, ăn không tiêu, không muốn ăn, mặt gầy, hốc hác, da sạm đen, sút cân.

    Phù: Phù chủ yếu ở chi dưới khi ấn mạnh vào mặt trong mắt cá chân sẽ thấy da bị lõm vào.

    Cổ trướng và tuần hoàn bàng hệ như trình bày ở phần trên.

    Vàng da: Da vàng ở nhiều mức độ khác nhau tùy theo mức độ tổn thương tế bào gan.

    Khám gan có thể sờ thấy gan to, tuy vậy có những trường hợp ngược lại gan bị xơ teo nên không thể sờ thấy phải dựa vào siêu âm, sinh thiết tế bào gan mới giúp chẩn đoán đúng.

    Xét nghiệm: Men gan SGOT và SGPT đều tăng cao (bình thường <40UI/l). Hồng cầu giảm khoảng 1,5g/l. Cholesterol <1,3g/l.

    (Theo Nutifood.com.vn)

    Hầu hết bệnh nhân xơ gan có rất ít triệu chứng. Xơ gan có thể được gợi ý bởi vàng da. Những triệu chứng không đặc hiệu như mệt mỏi, suy nhược và chán ăn có thể xảy ra. Ngứa do sự trào ngược của mật vào trong máu và da. Dễ bầm tím là hậu quả của sự giảm sản xuất protein kết cụm do bệnh gan.

    Dịch có thể tích tụ trong ổ bụng (cổ chướng) và sưng chân như là kết quả của sự tắc nghẽn máu qua gan. Ðây là biến chứng xa hơn do giảm sản xuất protein của gan xơ. Dịch có thể bị nhiễm trùng(viêm phúc mạc vi khuẩn) và có thể đe doạ sự sống. Thường hơn, dịch gây khó chịu trong bụng và tăng cân.

    Bởi vì dòng máu qua gan chậm trong gan xơ, do đó máu trở về tim từ ruột non phải tìm những cầu nối luân phiên. Ðiều này thường dẫn đến phình mạch như túi phình tĩnh mạch ở thực quản và dạ dày. Tĩnh mạch với thành mỏng này có thể bị vỡ dưới áp lực cao và gây ra xuất huyết nội. Ðiều này có thể dẫn đến ói ra máu, tiêu phân đen, và thậm chí sốc.

    Gan của bệnh nhân xơ gan giảm khả năng lọc chất độc (như amoniac) gây tích tụ trong máu. Ðiều này dẫn đến rối loạn tâm thần hoặc rối loạn nhân cách (bệnh não). Chứng hay quên, mất tập trung, rối loạn tâm thần và ít ngủ có thể là hậu qua của xơ gan. Khi bệnh trở nên nghiêm trọng, mất ý thức (hôn mê) và hơi thở yếu có thể xảy ra. Bệnh nhân cũng nhạy cảm với thuốc mà bình thường được lọc bởi gan. Ðây là một vấn đề đặc biệt quan trọng của thuốc an thần và thuốc ngủ.

    Suy thận thường đi kèm với suy gan. Việc sản xuất nước tiểu giảm khi xơ gan tiến triển xấu hơn. Xơ gan giai đoạn cuối, thận bị hư hoàn toàn (hội chứng gan thận) thường gây tử vong.

    (Theo MedicineNet)